Tích – tắc

Hix em đang bị nấc đấy. Anh không ở đây chơi trò bật bóng đến với em để cho em hết nấc nhỉ!

HÔm nay anh cáu em. anh mắng và cáu em vì em hỏi tại sao lại phải mặc áo khoác.Thế mà anh cũng cáu với em. Hôm nay anh hơi bị ốm, lại sợ H1N1 nữa nên lo lắm, mãi rồi anh cũng hết. Nhưng mà hôm nay em cũng hơi mệt và buồn nên chả tươi tỉnh với anh được.

Ah hôm nay thích nhất là vụ ưoợc đi cho cá ăn ở Hồ Têền anh nhỉ.

Anh chóng khỏe anh nhé!

Thư gửi anh nhân ngày em được nghỉ làm! :)

Gửi anh yêu Quý,

Anh yêu, giờ này mà có anh ở đây thì thích nhỉ? Chưa bao giờ em được tận hưởng một khoảng không gian như thế này. Và cũng chưa bao giờ công nghệ xịn thế. Một mình ngồi trên tầng thượng của một trung tâm thương mại xịn nhất Hà thành dung wireless (cái mà sang nay vất vả lắm anh em mình mới mua xong) internet miễn phí và có thể tĩnh tâm ngồi viết lại những cảm xúc của mình.

Anh yêu đang phải đi làm nhỉ? Hôm nay em được nghỉ mà anh yêu không được nghỉ gì  cả, hơi buồn  1 tẹo nhưng cũng không sao, cuộc sống mà. Thế nên giờ này em  mới ngồi đây viết cho anh được chứ.

Thế là anh và em đã ở đi cùng nhau được gần năm tháng rồi đấy. Nhanh ghê, mới ngày nào…

Càng ngày em lại càng nhận ra ở anh những điều đặc biệt, càng ngày em lại càng thấy anh đáng yêu hơn. Anh không hay giận dỗi vô cớ, cái gì đối với anh cũng rõ rang và minh bạch. Em rất thích điều ấy, em thích sự tự tin và hòa đồng ở anh. Em thích cách anh tặng quà (đôi khi là nó đi cùng với món quà anh tặng J), nó làm em hoặc những người được anh tặng quà sẽ nhớ rất lâu vì trong hành động tặng quà nó luôn đi liền với cả tấm lòng chân thành mà anh dành cho người được tặng quà (từ quà tặng cho cu Tý này, quà đi chơi về này, những món quà nhỏ anh dành tặng em như chiếc vòng đeo tay, đôi khuyên tai cùng màu với váy, cái túi này thì phải đi cùng cái váy này..) Mỗi lần được quan sát anh tỉ mỉ như thế em thấy rất khâm phục anh đấy.

Em thích sự chăm chút cẩn thận trong từng việc làm nhỏ của anh, sau này khi nào có em bé em thích em bé mình sẽ học được đức tính đấy của anh. Hix đó là đức tính mà em thấy mình khá là chưa hoàn hảo, nhưng anh lại cực hoàn hảo. J Dù với mỗi việc nhỏ nhưng khi làm anh luôn làm với từng chi tiết nhỏ nhất…Nhưng mà chỉ có em thấy đáng yêu thôi đấy nhé. Người khác sẽ chê là anh làm lâu đấy. Nhưng em biết anh mà, em chẳng chê anh đâu. J Dần dân em cũng thích nhìn anh khi anh làm mọi việc tỉ mỉ như thế… Hiếm người được như thế lắm đấy. Và em cũng ước giá như mình được dạy như thế từ bé. L

Anh còn là người của rất nhiều cái đầu tiên với em nữa chứ nhỉ. “Chiều nay em có rảnh không, đi đổ xăng với anh nhé” Hi đấy là tin nhắn lãng mạn nhất mà em nhận được cho đến thời điểm đó đấy nhé. J Chưa bao giờ em nhận được 1 lời rủ đi chơi đầy hóm hỉnh và lịch sự như thế cả.

Lần đầu tiên em được mặc áo mưa và ngồi đằng trước khi đi xe máy mặc dù em ko phải là người lái.

Lần đầu tiên em đi 1 vòng xích lô quanh hồ, 30K anh nhỉ.

Lần đầu tiên… nhiều thứ lắm…không kể nữa.

Em nhớ có lần khi em nói câu “Thế thì thôi”, anh đã không giận em, không bỏ rơi em..mà còn hỏi cặn kẽ tỉ mỉ và nhắc em lần sau không được nói như thế nữa. Em bỗng thấy anh lớn hơn em rất nhiều, lớn hơn cả những người từng đã ở bên em rất nhiều. Lúc đấy em thấy mình thật buồn cười, thật trẻ con còn anh thì trững trạc như một người lớn. Thế nào nhỉ, vừa người lớn vừa trẻ con, trong đó vừa có nét trẻ con và vừa có nét người lớn.

Anh luôn có tính xây dựng trước mọi sự việc, những khi mà em thấy bị quan, anh luôn tạo được cho em 1 điểm tựa, 1 niềm tin, biết khuyên bảo em dể em thấy được điều lo nghĩ của em thật là vô lý. Thật là may mắn khi em có anh ở bên nhỉ.

Em yêu cả những lúc anh giận dỗi em nữa, cả khi anh nói “từ khi nói mình thế mình chẳng dám hỏi điện thoại nữa”. J

Tuy đôi khi có những lần em cũng hơi mệt và hơi tức anh nhưng nhìn chung tất cả lại anh của em vẫn thật là tuyệt, tuyệt chứ không phải tỏ ra là tuyệt anh nhỉ. J Em yêu anh nhất nhà anh nhỉ!

Giọt nước mắt cuối cùng


Thành hay chờ nó ngoài hiên nhà mỗi buổi sáng sớm.

Những lúc ấy, Thành lại bắt đầu thói quen ngắm nhìn dàn hoa giấy. Mỗi lần Hương mở cửa, bắt gặp ánh mắt trầm ấm mà tha thiết trên đám hoa lá màu hồng xanh, tim Hương lại đập trật một nhịp. Trong lòng Hương đôi khi tự hỏi, liệu có bao giờ ánh mắt đó hướng về mình chứ không phải là dàn hoa trổ bông kia, rồi giật mình đỏ mặt, vội vàng xấu hổ cất ý nghĩ kia xuống thật sâu, như sợ ai đó phát hiện mà cười đùa mất.

“Cậu thích hoa giấy à?”

Thành có vẻ hơi giật mình khi nghe câu hỏi đột ngột từ người không hay nói nhiều như Hương. Cậu chỉ gật đầu nhẹ.

“Ừm.”
“Thích nhất trong tất cả các loại hoa?”
“Ừm.”

Hương nghiêng đầu tò mò.

“Thích đến vậy sao? Sao lại chỉ thích hoa giấy thôi?”

Thành im lặng, không trả lời, nhìn về phía sau xe, có vẻ ra hiệu cho Hương ngồi lên thay vì đặt câu hỏi. Hương ngần ngại trước không khí bỗng ngột ngạt kì lạ, rồi yên vị tên chiếc áo mưa gập gọn, để vòng bánh xe bắt đầu quay. Nó cảm thấy dường như mình đã hỏi một câu không nên được đặt ra.

Quang cảnh những con đường buổi sáng vắng vẻ làm cho sự yên lặng giữa cả hai càng thêm nhức nhối. Thường thì Hương sẽ lẩm nhẩm học bài hoặc chỉ đơn giản cảm thấy hạnh phúc đằng sau xe Thành, nhưng sau sự từ chối trả lời bất thường của cậu, Hương cảm thấy ngay cả thở mạnh sau tấm lưng ấy cũng thật khó khăn.

Hình như Thành đã đươc giáo dục rất tốt, kể cả việc đối xử lịch sự với con gái, nên có vẻ cậu cảm thấy hơi tội lỗi khi đã ngắt cuộc đối thoại như vậy. Bằng chứng là nửa đương, cậu đã lên tiếng, gọn ghẽ trong một câu.

“Vì hoa giấy là hoa tôi hay tặng bạn cùng lớp cũ.”

***
Bạn cùng lớp của Thành là một bạn gái có đặc điểm rất thích sưu tầm hoa giấy ở mọi địa điểm trong cả cái thành phố Hải Phòng nhỏ bé, và cũng là bạn gái cũ của Thành. Mỗi tháng, Thành hay tặng cô ấy một bông hoa giấy ở một góc phố nào đó, với vô vàn địa chỉ, để cô ấy ép vào quyển sổ tay và cảm ơn cậu với nụ cười rạng rỡ trên môi.

Cuối cùng, chính tay Thành đã chôn quyển sổ đó hôm đám tang của cô ấy, vì một tai nạn giao thông bất ngờ. Bất ngờ đến mức bàng hoàng cho tất cả, trong đó có Thành, đến mức khiến cậu chưa thể vượt qua, đến tận bây giờ.

Thành đã trả lời câu hỏi, với giọng nói bình thản mà vẫn lay lắt những hoang mang quá khứ, cốt cũng để làm cho Hương đỡ băn khoăn khó xử. Cậu đâu ngờ, những lời nói đó đã làm cho Hương lặng đi. Một cơn đau rát từ con tim đang co thắt lan tỏa ra khắp lồng ngực, gợn lên cổ họng, làm đầu óc Hương dừng lại, không thể suy nghĩ gì. Thành đã có một người con gái khác, và còn là người không bao giờ thay thế được.

Đơn phương.

Đơn phương.

Những giọt nước trào ra từ khóe mắt Hương. Hương lại đưa tay lên bịt chặt miệng không cho tiếng nấc vang lên. Lần thứ hai nó khóc sau lưng Thành, nhưng lần này Thành không biết, không thể biết, và nó cảm ơn trời vì điều đó.

Nó đã được cảnh báo, nhưng vẫn không thể tưởng tượng, đơn phương có thể đau đến mức này. Đau hơn Hương nghĩ rất nhiều, và đau hơn nữa, hơn tất cả những gì Hương biết, là dù có như vậy, dù đã biết là như thế, tình cảm của Hương đối với Thành vẫn không thể phai nhạt đi dù chỉ một chút nào.
Trước khi chiếc xe đạp đỗ lại ở cổng trường, Hương đã có đủ thời gian để lau nước mắt, để cho khuôn mặt không còn đỏ lên với nỗi đau, để Hương có thể đeo một nụ cười giả trên môi thật rạng rỡ, nói lời cảm ơn, và che giấu cõi lòng đã lạnh ngắt bằng nụ cười ấy cho đến khi gục xuống bên trong cánh cửa nhà, ngay sau khi Thành đã khuất sau căn nhà hàng xóm.

Hôm nay Hương không níu lại nhìn cậu qua cửa sổ phòng mình, vì sợ lại mắt gặp đôi mắt màu café buồn bã vương trên dàn hoa giấy của nhà Hương, mà tâm hồn đã mất hút trong những hoài niệm của quá khứ bạc màu.

Hương hoàn thành bản đăng kí thi đại học và nộp lại cho cô giáo.

Đã nửa năm cho tình cảm đơn phương của Hương. Và nửa năm ấy cũng là quá đủ. Hương không còn ngồi cạnh Thành, cũng đã biết cách giam giữ nước mắt mình tốt hơn, vì giờ đây, sẽ không có hoàng tử mắt nâu nào che chắn bảo vệ cho chúng nữa. Sự bảo vệ dịu dàng ấy đôi khi còn khủng khiếp hơn bất kì hành động tàn nhẫn nào, khi nó gửi đến trái tim Hương những cơn xót bỏng rát không tài nào chữa được.

Duy chỉ có thói quen đạp xe đến trường là không thể thay đổi, do bố mẹ Hương không đồng ý khác đi. Những vòng quay xe đạp lăn đều trên những nẻo đường, chở đi im lặng và nỗi đau.

Sau cuộc nói chuyện nửa năm trước, Thành cũng không nói nhiều như vậy nữa, sở thích ngắm nhìn giàn hoa giấy cũng ít đi. Người ta vốn có thể quên, nhưng không thể xóa bỏ, cũng giống như đôi mắt Thành vẫn thảng hoặc dạo qua những bông hoa giấy chợt nở hoặc những cảm xúc vẫn nhói lên day dứt vài lần trong Hương theo những cái nhìn ấy.

Dù vậy, tất cả sẽ chấm dứt nhanh thôi.

***
Ngày bế giảng, Thành đạp xe chở Hương về nhà như thường lệ. Qua bao ngày tháng, bỗng nhiên Hương đã có thể lấy lại giọng của mình.

“Thành, cậu có biết hoa giấy thực ra không có màu hồng?”
“Hưm?”

Thành có vẻ hơi ngạc nhiên trước câu hỏi đột ngột lần thứ hai ấy. Sau lưng cậu, Hương chỉ đều đặn nói tiếp.

“Thực ra hoa giấy chỉ là những bông hoa màu trắng rất nhỏ và mỏng manh bên trong lớp màu hồng kia, cái mà người ta hay tưởng là nhụy. Vì hoa giấy mỏng manh như vậy nên mới cần đến những chiếc lá khác màu để che chắn bào vệ, những chiếc lá chỉ thuộc về riêng hoa giấy mà thôi.”

Hương hít một hơi dài. Phía trước, Thành vẫn im lặng.

“Khi đến mùa hoa giấy tàn, những bông hoa trắng sẽ tàn trước tiên, nhưng những chiếc lá khác màu ấy vẫn còn và vẫn sống thêm một quãng dài nữa. Lúc đó lá sẽ ra sao khi hoa đã bỏ lá mà đi?”

Bánh xe đạp chậm lại, không rõ vì sắp về đến nhà hay là vì câu hỏi vương trên không trung của Hương.

“Câu trả lời là thực ra hoa đã không muốn bỏ lá lại một mình, thiên nhiên định vậy, hoa không thể làm trái. Nhưng vì thế mà hoa lại càng không muốn lá đau buồn. Vì thứ hoa yêu hơn cả, là màu xanh mà lá đã hy sinh, để biến thành màu hồng che chở cho hoa, là sức sống dạt dào lá đã có.”

Chiếc xe phanh kít lại cổng nhà Hương. Trên cao, giàn hoa giấy đang nở rộ, nhưng lần đầu tiên Thành không nhìn chúng, mà nhìn thẳng vào Hương, đôi mắt màu café đẹp tuyệt mở to. Hương xuống xe, trước khi đóng cửa lại, nó hướng ánh mắt về phía Thành, nở nụ cười cuối.

“Người ra đi không mong muốn sự quên lãng nơi người ở lại, nhưng mong muốn người ở lại có thể vượt qua và sống tiếp như cái cách người ra đi đã từng yêu thương.”

Đó là nụ cười buồn nhất Thành từng thấy. Một nụ cười héo hắt, khó khăn qua những cơn đau dài không có điểm cuối, qua những nỗ lực ngừng tình cảm nào đó lại, nhưng vô ích, nếu cõi lòng có thể nghe theo trí óc con người, thì trên đời chẳng sẽ chẳng bao giờ có những trái tim tan vỡ thành mảnh vụn vì dù có thích có yêu đến đâu, mong chờ sự đáp lại đến đâu, cũng không thể làm người kia cùng nhìn về một hướng.

Cánh cửa sập nhẹ trước Thành, để người con trai đứng ngoài với những ý nghĩ lẫn lộn đầy ắp trong lòng, và người con gái ngã sụp ngay đằng sau cánh cửa ấy, cánh tay nhỏ lại đưa lên bịt chặt những tiếng nấc, khi bàn tay kia nắm nghiến bản sao hồ sơ đại học ghi địa điểm Hà Nội.

***

Hương quyết định lên Hà Nội học, và bố mẹ nó không cấm cản con đường nó chọn. Suốt một tháng hè, Hương chôn mình dưới những tập tài liệu, sách vở trong phòng, quên đi giàn hoa giấy xanh mướt và người con trai nhà bên. Thành cũng lên Hà Nội thi đại học, nhưng ở rất xa nơi Hương định sống, nó cũng chỉ cần có vậy. Cố gắng một chút nữa thôi, Hương có thể từ bỏ tình cảm đầu đời và cũng là đơn phương của mình.

Hôm nay, là ngày Hương đi, hơi quá sớm cho ngày thi, nhưng có lẽ đó là điều Hương muốn.

“Con không định tạm biệt nhà Thành sao?”

Mẹ Hương hỏi, nắn nắn đôi tay nhỏ bé của đứa con gái. Dường như linh cảm người mẹ cho bà biết mơ hồ chuyện gì đã xảy ra. Hương lặng lẽ lắc đầu. Tiếng còi xe ô tô vang lên làm nó hơi giật mình, vội vàng chào mẹ rồi vòng ra phía cửa bên của xe, để bắt gặp người Hương ít muốn gặp nhất bây giờ.
Thành đứng đó, trên tay cầm một đóa hoa giấy nở muộn. Giọng nói trầm của cậu cất lên, làm lồng ngực Hương đau rát.

“Hôm nay tôi định đi thăm mộ cô ấy.”

Quá sức chịu nổi của mình, Hương quay người mở cửa xe. Thành bước nhanh tới dừng bàn tay Hương lại, cất tiếng tiếp tục.

“Lần cuối.”

Hương nhìn Thành, ánh mắt lộ rõ những hoang mang. Nó không muốn mình hy vọng thêm nữa, hoàn toàn không muốn, một lần tan vỡ là quá đủ cho trái tim con gái vốn đã yếu mềm trước đôi mắt màu café ấy.

Thành vẫn giữ chặt Hương.

“Tôi không biết sẽ là bao lâu, nhưng tôi sẽ vượt qua, chắc chắn như vậy. Hương có thể chờ tôi, đến ngày ấy, được không?”

Gió thổi xuyên qua giàn hoa giấy rực rỡ, làm những đóa hoa bay lên không trung, tạo thành cơn mưa hoa màu hồng nhạt trước hiên nhà. Cũng trước hiên nhà ấy, công chúa đã lại khóc, nép mình trong lòng chàng hoàng tử mắt nâu.

Để nước mắt công chúa bây giờ, sau này và mãi mãi sẽ được bảo vệ chỉ bởi hoàng tử ấy, hoàng tử của riêng công chúa mà thôi.

Kinh nghiệm sống cho em..

Vợ tôi không phải là một người đàn bà có nhan sắc khuynh nước đổ thành. Bởi tôi vốn tài mạo tầm thường và cũng không có nhiều may mắn bất ngờ để lọt vào mắt xanh những cô có nhan sắc chim sa cá lặn. Vả lại tôi cũng thường nghe bố tôi tuyên truyền nhồi nhét vào đầu từ nhỏ rằng đẹp đến mấy rồi cũng trở thành méo mó xấu xí, và vợ đẹp là vợ người ta. Vợ tôi cũng không có tài ba xuất chúng, bởi tôi vốn nể sợ và có thành kiến với những người đàn bà tài giỏi, vì họ thường kiêu ngạo và hay thành độc tài cai trị chồng.

Vợ tôi chỉ là một người đàn bà trung bình trên tất cả mọi mặt. Với một vóc dáng tầm thường bên ngoài, không vêu vao, xấu xí, khó nhìn. Bên trong nàng mang một tấm lòng hiền hậu, bao dung, biết cư xử khôn ngoan, khéo léo, để đem lại cho gia đình hạnh phúc êm ấm lâu bền mà tôi vô cùng biết ơn mỗi khi nghĩ đến. Trong nhiều năm chung sống, chưa bao giờ nàng nặng lời với tôi, chưa bao giờ có cử chỉ hay ngôn ngữ thiếu lịch sự, cũng chưa lần nào khóc lóc giận hờn đòi hỏi điều này điều kia, hoặc đặt điều kiện làm khó, hay so đo chuyện nhà với gia đình người khác. Ngoài tình cảm thắm thiết chia sẻ của vợ chồng, nàng âu yếm như một người tình, khoan dung rộng lượng như một người mẹ và hiểu biết như một người tri kỷ.

(Đoạn này đã được lược bớt nhằm tập chung hơn vào ý chính của câu chuyện)
Mẹ tôi làm như lấy vợ cho bà, cứ khóc lóc thúc giục mãi. Tôi tâm sự với một người bạn cũ. Anh cười và nói: “Hay là cậu thử tìm hiểu Mai, em gái tôi xem sao. Nó cũng sẵn có cảm tình với cậu đó. Mai hiền lành lắm”. Ðược bạn khuyến khích, tôi bắt đầu tìm hiểu Mai. Nàng không đẹp, không xấu, chăm chỉ, hiền lành. Trước đây, đến nhà bạn chơi, tôi chỉ thấy Mai thấp thoáng đâu đó sau bàn học, hoặc lẳng lặng rút lui sau khi cúi đầu chào lễ phép. Dẫn Mai đi chơi, tôi không tìm hiểu được chi nhiều về Mai, vì nàng quá thụ động, khi nào cũng nhẹ nhàng chiều chuộng, ít đưa ý kiến riêng. Khi hỏi ý, nàng thường bảo: “Dạ, anh cho em đi đâu cũng được cả, anh vui thì em cũng vui.”

Tôi đem nhận xét về cái hiền lành của Mai nói với một người bạn. Anh cười hô hố và nói: “Trời ơi, khi mới quen thì em nào mà không hiền lành như thánh mẫu, dịu dàng như tiên cô. Khi cưới về thì cái đuôi dài thòng lòng mới lòi ra và dữ như cọp. Em nào cũng vậy cả”. Tôi hỏi thẳng anh của Mai, anh trả lời: “Con nhỏ hiền lành, biết nhường nhịn và rất dịu dàng. Cậu có phước lắm mới gặp nó. Không phải vì nó là em gái mà tôi khen đâu.”

Mẹ tôi đến thăm gia đình Mai nhiều lần, khen mẹ của Mai phúc hậu, hiền lành, cư xử lịch sự, phải phép với chồng. Bà nghĩ rằng nhất định Mai cũng học được nề nếp gia đình của mẹ, không nhiều thì ít. Bà thúc tôi làm đám cưới ngay. Tôi xin hoãn một thời gian để tìm hiểu thêm, mẹ không chịu và bảo: “Lấy vợ thì lấy liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”. Tôi nói rằng nếu nghe được lời dèm pha đúng thì cũng là điều tốt, mình khỏi phải xét đoán lầm người. Mẹ tôi lại giảng cho tôi rằng chín mươi phần trăm cách cư xử của con cái là do ảnh hưởng sinh hoạt tốt xấu của cha mẹ. Cha mẹ gieo vào đầu con cái thứ tư tưởng nào thì nó sẽ hành động theo lối đó.

Thương mẹ, tôi tạm quên kinh nghiệm ghê gớm trong đời sống gia đình của bạn bè và đồng sự, liều thân lấy vợ cho mẹ vui lòng. Có một ông bạn bảo rằng lại thêm một thằng đàn ông ngu muội đi vào vết xe đổ nghìn năm của nhân loại.

Tôi cưới Mai. Nàng như cái bóng dịu hiền bên tôi. Tôi thấy mình tan loãng vào tình yêu êm đềm, và chợt nhận ra đời sống gia đình êm ái, thoải mái và hạnh phúc hơn nhiều lần đời sống độc thân. Không thấy gò bó, tù túng trong dây ràng buộc của gia đình như nhiều người thường bảo. Mai lo lắng cho tôi những thứ cần thiết lặt vặt trong cuộc sống bình thường, bổ khuyết cho tôi những thiếu sót, dịu dàng an ủi tôi những khi lo buồn. Tôi thỉnh thoảng đùa với vợ: “Anh ngu quá, biết lấy vợ mà sung sướng, hạnh phúc như thế này thì đâu để độc thân đến gần ba mươi tuổi. Uổng thật.”

Những khi chúng tôi có ý kiến trái ngược, Mai dịu dàng phân tích thiệt hơn cho tôi nghe, rồi để cho tôi quyết định. Sau khi quyết định xong, dù có trái ý nàng, Mai cũng vui vẻ cố gắng giúp tôi hoàn thành công việc. Không như các bà khác, những lúc chồng làm trái ý thì các bà mong cho ông chồng thất bại để chứng tỏ ý kiến của các bà là đúng, là hay. Mai thường nói: “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn. Nếu ai cũng khăng khăng giữ ý của mình thì chẳng làm nên được việc gì cả.”

Cũng có khi quyết định của tôi sai lầm, đưa đến kết quả không tốt. Những lúc này, Mai thường hết lời dịu dàng an ủi tôi, và cho rằng tôi không có lỗi gì cả, vì ai cũng có thể sai lầm, và Mai cho rằng nàng cũng có phần lỗi, vì chưa tận tình giúp tôi đầy đủ ý kiến để ra quyết định. Từ đó, tôi cảm thấy mình phải lắng nghe ý kiến của vợ nhiều hơn. Tôi nghĩ, nếu những lúc này mà Mai dằn vặt, nằng nặc buộc tội tôi, thì chưa chắc tôi đã thấy mình lầm lỗi. Mai không như một số đàn bà khác, đúng hay sai cũng đổ lỗi cho chồng, và những khi chồng thất bại trong đời, là cái dịp cho các bà chê bai, mỉa mai, nói những lời tàn nhẫn.

Ngoài xã hội, có những lúc tôi vô tình hoặc thiếu may mắn gây nên những sai lầm với người khác. Mai tự đứng ra gánh vác hết trách nhiệm thay tôi. Tự ái đàn ông đâu cho phép tôi để vợ gánh vác trách nhiệm thay mình. Tôi thấy thương và quý vợ nhiều hơn. Mai bảo: “Chuyện nhỏ, để em gánh vác giúp, anh để tâm trí làm những việc khác ích lợi hơn”. Tôi thầm nghĩ, tôi thì làm chi có việc lớn mà gánh vác. Những năm mới lấy nhau, tài chánh gia đình khó khăn, đắp trước bù sau hàng tháng, áo quần đơn sơ, ăn uống dè xẻn. Thế mà Mai bao giờ cũng vui vẻ, chưa bao giờ nghe Mai than thở hoặc so sánh với các bạn bè khác. Nàng thường nói: “Chúng ta nghèo về vật chất nhưng giàu về hạnh phúc, tinh thần thanh sạch, thế là đủ. Ðời sống biết đủ là đủ.”

Chính vì Mai không than thở nên tôi thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn về tài chánh gia đình. Buổi chiều về, tôi đi dạy thêm cho các lớp đêm. Ngày nghỉ, tôi mở lớp dạy kèm luyện thi cho từng nhóm nhỏ. Tài chánh gia đình nhờ đó mà dồi dào hơn. Có thêm tiền, nhưng Mai không vui, mà chỉ lo cho tôi thiếu sức khỏe sinh bệnh tật. Năm đó, tôi không chịu theo bè cánh với nhóm tham nhũng, chúng đày tôi về một tỉnh nhỏ xa xôi. Tôi buồn phiền lắm. Không đi thì không được, đi thì bỏ hết công chuyện làm ăn riêng tư. Mai khuyên tôi nhẫn nhịn, và gắng tìm vui trong hoàn cảnh mới. Khi chúng tôi về tỉnh nhỏ, Mai thường an ủi và nâng đở tinh thần tôi, đặt mua các thứ sách báo tôi thích, để giải trí và quên đi phần nào nổi buồn nơi tỉnh nhỏ. Mai xin được việc ở một nhà dạy trẻ để phụ thêm kinh tế gia đình…

Khi chạy vội về Sài Gòn vào năm 1975, chúng tôi mất tất cả, trở thành trắng tay. Tôi lo lắng và muộn phiền lắm, nhưng nhờ thái độ trầm tĩnh và chịu đựng của Mai mà tôi bớt bối rối. Ba tháng sau khi tôi đi học tập cải tạo, Mai thấy chồng chưa được về, đã xoay xở rất mau. Nàng mua áo quần cũ, cắt ra may thành áo quần trẻ em đem bỏ mối tại các chợ trời hè phố, đêm nào cũng may đến mười hai giờ khuya. Nàng một mình nuôi chồng, nuôi con thơ dại, ngược xuôi trong cuộc đổi đời.

Những năm tháng đi học tập cải tạo, có nhiều thì giờ suy nghĩ, tôi mới sâu sắc nhận ra mình mang ơn vợ quá nhiều. Tình cảm nàng dành cho tôi tràn đầy dịu dàng, bao dung, âu yếm và hy sinh. Tôi biết mình là kẻ có phước được vợ hiền… Những khi tôi đau khổ, Mai thường khuyên tôi: “Mình hãy xem cuộc đời này như một trò chơi không vui, đừng quá quan tâm đến những gì xảy ra cho mình, cho thiên hạ chung quanh. Những đau khổ mà mình đang chịu đựng cũng là một thứ thử thách, làm cho mình lớn thêm lên, trưởng thành hơn, và cứ vui với những gì nhỏ nhoi nhất có thể có trong thời gian này.”

Chúng tôi vượt biên ra nước ngoài. Trên biển đói khát Mai nhường phần ăn uống cho con, cho chồng, với lý do là tôi cần sống hơn nàng, tôi có thể làm được nhiều việc ích lợi hơn. Nhưng theo ý tôi, thì chính Mai mới xứng đáng để sống sót vì đời sống nàng có nhiều ý nghĩa, tốt đẹp hơn.

Những ngày khó khăn nắng cháy cực khổ tại trại tỵ nạn, nàng dành lấy hết tất cả việc vặt vãnh như lãnh thức ăn, xách nước, nấu nướng, chăm sóc con cái, để cho tôi có thì giờ tham gia tiếp tay phụ giúp các công tác chung trong trại. Mai dặn tôi tránh xa những nơi có tranh giành, có chút quyền lợi, chỉ kê vai gánh vác những việc có ích chung mà không ai làm. Với sự động viên, khuyến khích của vợ, tôi đã làm được nhiều việc có ích cho cộng đồng. Trong lúc đó một vài anh bạn tôi tham gia việc cộng đồng mà như làm việc quốc cấm, bị vợ cằn nhằn, ngăn cản, mỉa mai rằng việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng.

Nhiều người than vãn về những thiếu thốn, khó khăn, cực khổ trong trại tỵ nạn, Mai thì khi nào cũng vui vẻ, lạc quan. Những thiếu thốn khó khăn trong trại tỵ nạn là đương nhiên. Những khi con tôi chê cơm, Mai nhắc nhở cho chúng những ngày khoai sắn qua bữa, những ngày đói khát trên biển khơi, thì chúng vội vàng ăn ngon lành những chén cơm trong trại tỵ nạn.

Chúng tôi đến Mỹ vào mùa đông, tuyết phủ ngút ngàn, trắng xóa cả đất trời. Chưa biết có thể làm gì để nuôi sống gia đình trong miền đất mới, nhưng nhờ trợ cấp xã hội trong thời gian đầu, đắp đổi tạm sống qua ngày. Dù không dư giả, tiền trợ cấp xã hội được Mai chia ra làm ba phần: hai phần ba nuôi sống gia đình với chi tiêu dè xẻn, tằn tiện, một phần ba gởi về giúp bà con, bạn bè ở quê nhà. Hai vợ chồng dắt nhau đi tìm việc, và không nản lòng. Tôi tìm được một chân rửa chén bát tại khách sạn Holiday Inn. Mai tìm được một chân làm bánh ngọt Donut. Chúng tôi tự túc được rồi, và từ đó mà tiến lên, tôi tìm được công việc khác trong hãng tiện có đồng lương khá hơn.

Chưa bao giờ tôi nghe Mai phàn nàn, tị nạnh với tôi về công việc trong nhà. Chưa bao giờ nàng lên giọng sai bảo tôi hút bụi, quét nhà, rửa chén bát. Nếu rảnh thì tôi làm, nếu tôi bận xem những trận thể thao hấp dẫn thì thôi. Nhiều lúc Mai không cho tôi rửa chén bát, giành lấy mà làm, vì những lúc đó nàng rảnh rang. Chúng tôi cùng làm việc nhà trong tinh thần chia sẻ, không phải trong trách nhiệm phân chia việc nào chồng làm, việc nào vợ làm. Mai chưa bao giờ tranh hơn thua với chồng. Nàng quan niệm rằng vợ chồng không cần tranh hơn thua nhau, hơn chồng cũng không được gì mà chỉ tổ tình yêu bị tổn thương…

Chưa bao giờ Mai lớn tiếng hay khăng khăng quyết đoán việc gì. Khi nào cũng dịu dàng thảo luận và sẵn sàng chờ lúc thuận tiện để thuyết phục thêm. Tôi đã nghe thấy vợ nhiều người bạn sẵn sàng xẵng giọng với chồng, mở miệng ra là nói nặng lời, nói điều chua chát, khó nghe, và tôi biết mình may mắn có vợ hiền… Những lúc tôi gặp khó khăn ngoài xã hội, mang bực bội và cái không vui về nhà, Mai thường khuyên tôi: “Mục tiêu cuối cùng của đời người là đi tìm hạnh phúc. Ði làm kiếm tiền cũng chỉ để mua hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực của cuộc sống là gia đình vui vẻ, ấm êm và dễ chịu. Không tội chi đem cái khó khăn bực bội của bên ngoài về nhà cho mất vui, mà phí phạm ngày tháng yên ấm của gia đình. Dù giàu sang danh vọng đến mấy mà gia đình thiếu hạnh phúc thì đời không còn ý nghĩa gì”. Tôi nghe và tìm được lại được nguồn vui và yên tĩnh trong tâm hồn…

Nhiều khi nằm bên nhau, tôi hỏi Mai: “Sao hơn mười mấy năm sống bên nhau, chưa bao giờ em làm cho anh buồn lòng, chưa bao giờ em làm cho anh phải nổi giận. Em có khi nào buồn giận anh không?” Nàng nói: “Em đã học được là người cho thì được nhiều hạnh phúc hơn người nhận. Không cầu thì sẽ được, không đòi thì sẽ có. Biết vui với cái tương đối mà mình đang có thì trở thành kẻ sung sướng nhất trong đời. Cho đi tình thương chân thành thì được nhận lại bằng tình thương. Nhiều người đàn bà đòi hỏi ở chồng quá đáng, ngoài khả năng của chồng, bao nhiêu cũng không thỏa mãn cả. Họ không nhìn thấy sự hy sinh của người khác mà chỉ cố bới móc lỗi lầm cỏn con của chồng để mà trách móc, giận hờn. Làm thế không có lợi gì cả mà chỉ là cách phá hoại hạnh phúc gia đình hữu hiệu nhất…”

Tôi thành thực mà nói rằng đã học được rất nhiều điều tốt từ vợ tôi. Nàng càng dịu dàng, càng thu mình nhỏ lại, thì tôi càng thương yêu, trang trải, bù đắp cho vợ nhiều hơn. Mỗi khi đi làm về thấy nét mặt tươi vui, hân hoan của vợ thì bao nhiêu mệt nhọc, bực bội trong ngày đều tiêu tan. Khi tôi phạm phải lỗi lầm, hành động sai quấy, vợ tôi thường an ủi: “Mình là con người chứ đâu phải là thần thánh chi mà không có sai lầm. Mình đừng buồn, cái thiệt hại này cũng là bài học tốt về sau”. Những an ủi, khuyến khích tinh thần của vợ làm cho đời sống tôi nhẹ nhàng, êm ái, thư dãn, không bị dồn ép, không bị áp lực cuộc sống, không có căng thẳng gia đình như nhiều bạn bè khác.

Trên bước đường tha hương, một lần vợ chồng Tuân – Lam ghé thăm chúng tôi. Tuân là bạn cũ, Lam là người xưa. Vợ tôi biết rõ mối tình cũ giữa tôi và Lam, nhưng nàng tin chồng, và rất lịch sự, vồn vã đón tiếp họ hết lòng. Có lẽ Mai cũng biết chuyện xưa của chúng tôi đã nguội lạnh từ lâu, chẳng ai còn tiếc nuối chi. Tuân vẫn hiền lành phúc hậu như xưa, nét mặt chịu đựng… Ðêm khuya tôi vẳng nghe tiếng Lam đay nghiến, dằn vặt chồng ở phòng bên cạnh, nói những lời thiếu lễ độ với chồng… Về sau, mỗi lần nghĩ đến Lam lòng tôi phơi phới vì may mắn cuộc đời tôi không phải gắn bó với một người đàn bà như Lam. Tôi biết ơn mẹ nhiều hơn. Kinh nghiệm sống của mẹ đã giúp cho cuộc đời tôi hạnh phúc hơn. Và tôi biết thương yêu, nể trọng vợ hơn nhiều.

Một chị bạn gia đình không được hạnh phúc, hỏi vợ tôi bí quyết để được chồng thương yêu, nể nang. Mai cười, nói: “Không có bí quyết nào cả. Chỉ có câu chuyện sau đây, em thuộc nằm lòng từ thời còn đi học. Chuyện ở trong sách tập đọc của Pháp:

Có một anh nông dân đem bò ra chợ tỉnh bán. Suốt ngày không bán được phải dẫn bò về. Ðường xa mệt nhọc, con bò trở chứng không chịu đi. Có người gạ đổi con bò lấy con ngựa hồng tung tăng. Anh tưởng được ngựa sẽ thong thả dong cương ra về, nhưng con ngựa lạ chủ không chịu cho anh cưỡi và cũng trì kéo dằng dai. Một người khác dẫn con heo nái ngoan ngoãn đi qua, gạ đổi heo lấy ngựa, anh đổi liền. Ðường xa mệt nhọc, con heo cũng nằm ì không chịu đi, bí quá, anh đổi heo lấy một con dê nái. Con dê càng cứng đầu khủng khiếp, anh vật lộn với dê phờ phạc. Ðêm đã tối mịt mù, một hành khách đề nghị đổi dê lấy một con gà trống lớn. Vừa đói, vừa khát, vừa mệt, anh ôm con gà vào quán đổi lấy bữa cơm. Thế là một bữa ăn trả giá bằng một con bò.

Ăn xong, anh nông phu thong thả ra về, vừa đi vừa ca hát khỏe khoắn. Khi về đầu làng, có bạn quen hỏi đi đâu mà về khuya thế. Anh kể chuyện đi bán bò, và đổi con gà lấy bữa cơm. Người bạn hết hồn, khuyên anh khoan về nhà mà bà vợ nổi cơn tam bành lên, không khéo vợ chồng xô xát gây ra án mạng. Anh nông dân bảo rằng chắc vợ anh cũng thấy việc làm của anh là có lý. Người bạn ức quá, đánh cá một con bò, nếu chị vợ mà không gây gổ, thì anh nông dân sẽ được một con bò, còn ngược lại, phải mất lại một con bò khác. Người bạn đi theo núp bên ngoài nghe cuộc đối thoại của vợ chồng anh nông dân.

Chị vợ hỏi anh đã ăn gì chưa, đi đường có mệt lắm không, bò bán có được giá không? Anh đáp rằng đã ăn rồi, con bò không bán được mà trên đường về nó không chịu đi nên đã đổi con bò lấy con ngựa rồi. Chị vợ nói rằng có con ngựa cũng tốt, nó sẽ kéo xe, giúp mình di chuyển mau chóng hơn. Anh chồng cho biết con ngựa không chịu cho anh cưỡi nên đã đổi lấy con heo nái. Chị vợ cũng tán thành ngay và còn dự trù con heo mùa sau sẽ sinh ra một bầy heo khác, rất có lợi. Anh chồng cho biết thêm, con heo cũng trở chứng không chịu đi nên đổi lấy một con dê cái. Chị vợ tiếp liền, là con dê cũng rất có lợi, từ nay mỗi sáng gia đình sẽ có sữa dê mà uống. Anh chồng lắc đầu và cho biết đã đổi con dê ương ngạnh lấy con gà trống lớn. Chị vợ anh nông phu tiếp rằng có con gà cũng tốt, mỗi sáng nghe nó gáy cũng vui tai. Anh chồng bảo là buổi sáng ra đi không đem tiền theo, đói quá, đã vào quán đổi con gà lấy bữa cơm.

Nghe xong, chị vợ anh nông phu quàng hai tay lên vai chồng và nói: “Anh làm như thế là phải. Lấy của giữ thân, chứ đừng lấy thân giữ của. Ði cả ngày mệt nhọc đói khát, không ăn chịu sao nổi. Em đã để sẵn khăn, múc sẵn nước, anh đi tắm cho khỏe.”

Mai kết luận: “Muốn được chồng thương cũng rất dễ, đừng bao giờ tranh hơn thua với chồng, việc gì đã lỡ thì cho qua luôn, vui vẻ chấp nhận, và dịu dàng, nhường nhịn chồng là yếu tố căn bản để được chồng thương.”

Ngoài bố mẹ tôi, người tôi biết ơn nhiều nhất là vợ tôi. Ðời sống tôi có ý nghĩa hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn là nhờ vợ khôn ngoan, dịu dàng. Nhiều đêm thức giấc tôi nhẹ hôn lên mắt vợ trong khi vợ đang ngủ, thầm so sánh tấm lòng của vợ với trái tim của một vị nữ thánh. Nàng thì luôn luôn nói: “Em chỉ muốn làm cái bóng nhỏ và âm thầm bên đời anh thôi”. Mai chưa hề đọc nhiều sách, nhưng nàng đã biết chọn vị trí thấp nhất để được nâng lên cao nhất trong lòng chồng con.

TOEFL test taker’s expectations

Most people take the TOEFL test to gain admission into universities and colleges where instruction is in English. TOEFL test is devided into four sections and in the order as:

* Reading: 3-5 passeages(12-14 questions; 700 word/passages), 60-100 minutes to complete, 30 points
* Listening: 4-6 lectures, 6 questions each, 500-800 words(4-6 minutes); 2 -3 conversations, 5 questions each, 400 – 500 words(2-3 minutes); 60-90 minutes to complete; 30 points.
* BREAK: 10 MINUTES
* Speaking: 2 independent task(1 personal experience, 1 preference/choice); 2 integrated task(read-listen-speak), reading 100 words, conversation 200 words(1-2 minutes), Lectures 200-300 words(1-2minutes); 2 integrated task( listen-speak), conversation 200 words(1-2 minutes), lecture 200-300 words(1-2 minutes); 20 minutes to complete; 30 points.
* Writing: 1 independent task; 1 integrated task(read-listen-write)-reading 250-300 words & lecture 250-300 words(2 minutes); 50 minutes to complete; 30 points
* Total scores: 120 points

Posted in English. Thẻ: . Leave a Comment »

Practise 1

1. Everyone in the bank-including the manager and the tellers, ran to the door when the fire alarm rang.

A. tellers, ran
B. tellers:ran
C. tellers, had run
D. tellers-ran
E. tellers’ ran”

2. To no ones surprise, Joe didn’t have his homework ready.

A. no ones surprise
B. noones surprise
C. no-ones surprise
D. no ones’ surprise
E. no one’s surprise

3. If he would have read “The White Birds,” he might have liked William Butler Yeats’s poetry.

A. would have read
B. could have read
C. would of read
D. could of read
E. had read

4. After the hurricane, uprooted trees were laying all over the ground.

A. were laying
B. lying
C. were lying
D. were laid
E. was laid

5. Ralph Waldo Emerson (1803-1882), the great Transcendentalist philosopher, wrote in his essay “Self-Reliance” of the need for an individual to develop his capacities.

A. essay “Self–Reliance”
B. essay, “Self-Reliance”
C. essay: Self-Reliance
D. essay, Self-Reliance
E. essay; “Self-Reliance”

6. The recently built children’s amusement park has been called “ a boon to the community “ by its supporters and “an eyesore” by its harshest critics.

A. and “an eyesore” by its harshest
B. and, “ an eyesore,” by its harshest
C. and, an eyesore; by its harshest
D. and-an eyesore- by its’ harshest
E. and-“an eyesore”- by its’ harshest

7. I always have trouble remembering the meaning of these two common verbs, affect (to change” or “to influence”) and effect (“to cause” or “ to accomplish ) . “

A. “ to accomplish ). “
B. “ to accomplish” ).
C. “to accomplish).
D. To accomplish.
E. ( “ to accomplish. “ )

8. My class just finished reading- “ The Fall of the House of Usher “, a short story by Edgar Allen Poe.

A. reading- “ The Fall of the House of Usher”,
B. reading, The Fall of the House of Usher,
C. reading “The Fall of the House of Usher, “
D. reading, The Fall of the house of Usher, “
E. reading: The Fall of the House of Usher-

9. After it was repaired it ran perfect again.

A. ran perfect
B. ran perfectly
C. could run perfect
D. could of run perfect
E. would run perfectly

10. “Are there two e’s in beetle,” asked Margo?

A. there two e’s in beetle,” asked Margo?
B. their two e’s in beetle?” asked Margo.
C. there two e’s in beetle,” asked Margo?
D. there two e’s in beetle?” asked Margo.
E. there two e’s in beetle, asked Margo?

11. The circus audience received a well-deserved round of applause for the perfectly timed acrobatic stunt.

A. audience received a well-deserved
B. audience gave a well deserved
C. audience did receive a well deserved
D. audience gave a well-deserved
E. audience did get a well-deserved

12. Looking directly at me, my Mother said, “ These are your options: the choice is yours.”

A. Mother said, “ These are your options: the choice is
B. Mother said- these are your options, the choice is
C. Mother had said, These are your options; the choice is
D. Mother had said, “These are your options; the choice is
E. Mother said, “These are your options; the choice is

13. Porcupine is from Latin porcus, “pig,” and spina, “spine.”

A. porcus, “pig,” and spina, “spine.”
B. Porcus-pig and spina, “spine.”
C. Porcus-pig, and Spina, “spine.”
D. Porcus-Pig-,Spina-spine.
E. Porcus, “pig,” and spina “spine”.

14. Seeing the dolphins, some sharks, a killer whale, and a Moray eel made the visit to the marine park worthwhile.

A. a killer whale, and a Moray eel made the visit
B. a killer whale, and a moray eel made the visit
C. a killer whale and a moray eel makes the visit
D. a killer whale and a Moray eel makes the visit
E. a killer whale and a moray eel made the visit

15. Still, the fact that a planet exists outside our solar system encourages hope that other solar systems exist, and in them, perhaps, a planet that does support life.

A. that a planet exists outside our solar system encourages hope that other solar systems exist, and
B. that a Planet exists out side our solar system encourages hope that other solar systems exist and
C. could be that a planet exists outside our solar system encourages hope that other solar systems exist, and
D. that a planet exist outside our solar systems encourage hope that other solar systems exist, and
E. that a planet does exists out side our solar system encourages hope that other solar systems exist, and

16. Mail-order shopping can be convenient and timesaving with appropriate precautions, it is safe as well.

A. can be convenient and timesaving
B. can be convenient and timesaving;
C. should be convenient and time saving;
D. could be convenient and time saving;
E. can be convenient and time-saving;

17. Among the many fields of science, no matter what turns you on, there are several fields of study.

A. science, no matter what turns you on,
B. Science, no matter what turns you on,
C. Science, no matter which you chose,
D. Science, no matter which of these you chose-
E. science, no matter which you choose,

18. The fact that boxing is known to cause head injuries and brain damage should lead us to inform the public and push for a ban on boxing.

A. should lead us to inform
B. could lead us to inform
C. should of led us to inform
D. will lead us to inform
E. should have led us to inform,

19. The first part of the test was on chemistry, the second on mathematics, and the third on english.

A. on mathematics, and the third on english.
B. on mathematics; and the third on English.
C. on Mathematics; and the third on English.
D. on mathematics, and the third on English.
E. on mathematics: and the third on English.

20. The Diary of Anne Frank showed a young girl’s courage during two years of hiding.

A. showed a young girl’s courage
B. shows a young girl’s courage
C. did show a young girls courage
D. has shown a young girl’s courage
E. showed a young girl’s courage

21. In August my parents will be married for twenty-five years.

A. will be married for twenty-five years.
B. shall have been married for twenty-five years.
C. will have been married for twenty-five years.
D. will be married for twenty five years.
E. will have married for twenty-five years.

Answer Key
1. D
2. E
3. E
4. C
5. A
6. A
7. B
8. C
9. B
10. D
11. D
12. E
13. A
14. B
15. A
16. E
17. E
18. A
19. D
20. B

Posted in English. Thẻ: . Leave a Comment »

Reading for main idea!

Practice Questions

1. Americans have always been interested in their Presidents’ wives. Many First Ladies have been remembered because of the ways they have influenced their husbands. Other First Ladies have made the history books on their own.

At least two First Ladies, Bess Truman and Lady Bird Johnson, made it their business to send signals during their husbands’ speeches. When Lady Bird Johnson thought her husband was talking too long, she wrote a note and sent it up to the platform. It read, “It’s time to stop!” And he did. Once Bess Truman didn’t like what her husband was saying on television, so she phoned him and said,” If you can’t talk more politely than that in public, you come right home.”

Abigail Fillmore and Eliza Johnson actually taught their husbands, Millard Fillmore and Andrew Johnson, the thirteenth and seventeenth Presidents. A schoolteacher, Abigail eventually married her pupil, Millard. When Eliza Johnson married Andrew, he could not read or write, so she taught him herself.

It was First Lady Helen Taft’s idea to plant the famous cherry trees in Washington, D. C. Each spring these blossoming trees attract thousands of visitors to the nation’s capital. Mrs. Taft also influenced the male members of her family and the White House staff in a strange way: she convinced them to shave off their beards!

Shortly after President Wilson suffered a stroke, Edith Wilson unofficially took over most of the duties of the Presidency until the end of her husband’s term. Earlier, during World War I, Mrs. Wilson had had sheep brought onto the White House lawn to eat the grass. The sheep not only kept the lawn mowed but provided wool for an auction sponsored by the First Lady. Almost $100,000 was raised for the Red Cross.

Dolly Madison saw to it that a magnificent painting of George Washington was not destroyed during the War of 1812. As the British marched toward Washington, D. C., she remained behind to rescue the painting, even after the guards had left. The painting is the only object from the original White House that was not burned.

One of the most famous First Ladies was Eleanor Roosevelt, the wife of President Franklin D. Roosevelt. She was active in political and social causes throughout her husband’s tenure in office. After his death, she became famous for her humanitarian work in the United Nations. She made life better for thousands of needy people around the world.

What is the main idea of this passage?

A. The Humanitarian work of the First Ladies is critical in American government.
B. Dolly Madison was the most influential president’s wife.
C. Eleanor Roosevelt transformed the First Lady image.
D. The First Ladies are important in American culture.
E. The First Ladies are key supporters of the Presidents.

2. Of the many kinds of vegetables grown all over the world, which remains the favorite of young and old alike? Why, the potato, of course.

Perhaps you know them as “taters,” “spuds,” or “Kennebees,” or as “chips,” “Idahoes,” or even “shoestrings.” No matter, a potato by any other name is still a potato- the world’s most widely grown vegetable. As a matter of fact, if you are an average potato eater, you will put away at least a hundred pounds of them each year.

That’s only a tiny portion of the amount grown every year, however. Worldwide, the annual potato harvest is over six billion bags- each bag containing a hundred pounds of spuds, some of them as large as four pounds each. Here in the United States, farmers fill about four hundred million bags a year. That may seem like a lot of “taters,” but it leaves us a distant third among world potato growers. Polish farmers dig up just over 800 million bags a year, while the Russians lead the world with nearly 1.5 billion bags.

The first potatoes were grown by the Incas of South America, more than four hundred years ago. Their descendants in Ecuador and Chile continue to grow the vegetable as high as fourteen thousand feet up in the Andes Mountains. ( That’s higher than any other food will grow.) Early Spanish and English explorers shipped potatoes to Europe, and they found their way to North America in the early 1600s.

People eat potatoes in many ways-baked, mashed, and roasted, to name just three. However, in the United States most potatoes are devoured in the form of French fries. One fast-food chain alone sells more than $1 billion worth of fries each year. No wonder, then, that the company pays particular attention to the way its fries are prepared.

Before any fry makes it to the people who eat at these popular restaurants, it must pass many separate tests. Fail any one and the spud is rejected. To start with, only russet Burbank potatoes are used. These Idaho potatoes have less water content than other kinds, which can have as much as eighty percent water. Once cut into “shoestrings” shapes, the potatoes are partly fried in a secret blend of oils, sprayed with liquid sugar to brown them, steam dried at high heat, then flash frozen for shipment to individual restaurants.

Before shipping, though, every shoestring is measured. Forty percent of a batch must be between two and three inches long. Another forty percent has to be over three inches. What about the twenty percent that are left in the batch? Well, a few short fries in a bag are okay, it seems.

So, now that you realize the enormous size and value of the potato crop, you can understand why most people agree that this part of the food industry is no “small potatoes.”

What is the main idea of this passage?

A. Potatoes from Ireland started the Potato Revolution.
B. The average American eats 50 lbs of potatoes a year.
C. French fries are made from potatoes.
D. Potatoes are a key vegetable in America.
E. The various terms for potatoes have a long history.

3. What does the word patent mean to you? Does it strike you as being something rather remote from your interests? If it does, stop and think a moment about some of the commonplace things that you use every day, objects that you take for granted as part of the world around you. The telephone, radio, television, the automobile, and the thousand and one other things (even the humble safety pin) that enrich our lives today once existed only as ideas in the minds of men. If it had not been possible to patent their ideas and thus protect them against copying by others, these inventions might never have been fully developed to serve mankind.

If there were no patent protection there would be little incentive to invent and innovate, for once the details of an invention became known, hordes of imitators who did not share the inventor’s risks and expenses might well flood the market with their copies of his product and reap much of the benefit of his efforts. The technological progress that has made America great would wither rapidly under conditions such as these.

The fundamental principles in the U. S. patent structure came from England. During the glorious reign of Queen Elizabeth I in England, the expanding technology was furthered by the granting of exclusive manufacturing and selling privileges to citizens who had invented new processes or tools- a step that did much to encourage creativity. Later, when critics argued that giving monopoly rights to one person infringed on the rights of others, an important principle was added to the patent structure: The Lord Chief Justice of England stated that society had everything to gain and nothing to lose by granting exclusive privileges to an inventor, because a patent for an invention was granted for something new that society never had before.

Another basic principle was brought into law because certain influential people in England had managed to obtain monopoly control over such age-old products as salt, and had begun charging as much as the traffic would bear. The public outcry became so great that the government was forced to decree that monopoly rights could be awarded only to those who created or introduced something really unique. These principles are the mainstays of our modern patent system in the United States.

In colonial times patent law was left up to the separate states. The inconsistency, confusion, and unfairness that resulted clearly indicated the need for a uniform patent law, and the men who drew up the Constitution incorporated one. George Washington signed the first patent law on April 10,1790, and less than four months later the first patent was issued to a man named Samuel Hopkins for a chemical process, an improved method of making potash for use in soapmaking.

In 1936 the Patent Office was established as a separate bureau. From the staff of eight that it maintained during its first year of operation it has grown into an organization of over 2500 people handling more than 1600 patent applications and granting over 1000 every week.

The Patent Office in Washington, D. C., is the world’s largest library of scientific and technical data, and this treasure trove of information is open for public inspection. In addition to more than 3 million U. S. patents, it houses more than 7 million foreign patents and thousands of volumes of technical literature. Abraham Lincoln patented a device to lift steam vessels over river shoals, Mark Twain developed a self-pasting scrapbook, and millionaire Cornelius Vanderbilt invented a shoe-shine kit.

A patent may be granted for any new and useful process, machine, article of manufacture, or composition of matter ( a chemical compound or combinations of chemical compounds), or any distinct and new variety; of plant, including certain mutants and hybrids.

The patent system has also helped to boost the wages of the American worker to an unprecedented level; he can produce more and earn more with the computer, adding machines, drill press or lathe. Patented inventions also help keep prices down by increasing manufacturing efficiency and by stimulating the competition that is the foundation of our free enterprise system.

The decades of history have disclosed little need for modification of the patent structure. Our patent laws, like the Constitution from which they grew, have stood the test of time well. They encouraged the creative processes, brought untold benefits to society as a whole, and enabled American technology to outstrip that of the rest of the civilized world.

What is the main idea of this passage?

A. The patent system encourages free enterprise.
B. The Constitution protects the patent system.
C. The patent system in England has been influential in American patent development.
D. Patents are important tools for inventors.
E. Patented inventions protect the inventor, free enterprise, and the creative process.

4. Most people think it’s fine to be “busy as a beaver.” Little do they know. Beavers may work hard, but often they don’t get much done.

Beavers are supposed to be great tree cutters. It is true that a beaver can gnaw through a tree very quickly. (A six-inch birch takes about ten minutes.) But then what? Often the beaver does not make use of the tree. One expert says that beavers waste one out of every five trees they cut.

For one thing, they do not choose their trees wisely. One bunch of beavers cut down a cottonwood tree more than one hundred feet tall. Then they found that they could not move it.

In thick woods a tree sometimes won’t fall down. It gets stuck in the other trees. Of course, doesn’t think to cut down the trees that are in the way. So a good tree goes to waste.

Some people think that beavers can make a tree fall the way they want it to. Not true. (In fact, a beaver sometimes gets pinned under a falling tree.) When beavers cut a tree near a stream, it usually falls into the water. But they do not plan it that way. The fact is that most trees lean toward the water to start with.

Now what about dam building? Most beaver dams are wonders of engineering. The best ones are strongly built of trees, stones, and mud. They are wide at the bottom and narrow at the top.

Beavers think nothing of building a dam more than two hundred feet long. One dam, in Montana, was more than two thousand feet long. The largest one ever seen was in New Hampshire. It stretched four thousand feet. It made a lake large enough to hold forty beaver homes.

So beavers do build good dams. But they don’t always build them in the right places. They just don’t plan. They will build a dam across the widest part of the stream. They don’t try to find a place where the stream is narrow. So a lot of their hard work is wasted.

Beavers should learn that it’s not enough to be busy. You have to know what you’re doing, too. For example, there was one Oregon beaver that really was a worker. It decided to fix a leak in a man-made dam. After five days of work it gave up. The leak it was trying to block was the lock that boats go through.

What is the main idea of this passage?

A. Beavers may be hard working animals, but they don’t always choose the most efficient mechanisms.
B. Beavers are excellent dam builders.
C. New Hampshire was the site of the largest beaver dam.
D. Beavers are well developed tree cutters.
E. Beavers are poor surveyors of aquatic environments in some cases.

5. The raisin business in America was born by accident. It happened in 1873 in the San Joaquin Valley of California. Many farmers raised grapes in this valley. That year, just before the grape harvest, there was a heat wave. It was one of the worst heat waves ever known. It was so hot the grapes dried on the vines. When they were picked, California had its first raisin crop.

People were surprised to find how good raisins were. Everybody wanted more. So the San Joaquin farmers went into the raisin business. Today, of course, they do not let the grapes dry on the vines. They treat them with much more care.

In late August the grapes start to ripen. They are tested often for sweetness. The growers wait until the sugar content is twenty-one percent. Then they know the grapes are ripe enough to be picked.

Skilled workers come to the vineyards. They pick the bunches of grapes by hand. The workers fill their flat pans with grapes. They gently empty the pans onto squares of paper. These squares lie between the long rows of vines. They sit in the sun.

Here the grapes stay while the sun does its work. It may take two weeks or longer. The grapes are first dried on one side. When they have reached the right color, they are turned to dry on the other side. The grapes are dried until only fifteen percent of the moisture is left. Then they have turned into raisins.

The raisins are rolled up in the paper on which they have dried. Trucks take them from the fields. They are poured into big boxes called sweatboxes. Each box holds one hundred and sixty pounds of raisins. Here, any raisins that are a bit too dry take moisture from those that have a bit too much. After a while they are all just moist enough.

The big boxes are trucked next to the packaging plant. They are emptied onto a conveyor belt that shakes the raisins gently. This knocks them from their stems. A blast of air whisks the stems away. The water bath is next. Then the plump brown raisins have a last inspection. They are again checked for moisture and sugar. Then they go on a belt to packing machines. Here they are poured into packages, which are automatically weighed and sealed. The raisins are now ready for market.

What is the main idea of this passage?

A. The creation of raisins in America was an accident.
B. The process of raisin development requires multiple steps.
C. Raisins on the grocery store shelf undergo a brief fermentation process.
D. Raisins are cleaned thoroughly at the packing plant.
E. California has been the leader in American raisin development.

6. In 1976, Sichan Siv was crawling through the jungle, trying to escape from Cambodia. By 1989, however, Siv was working in the White House, in Washington D. C., as an advisor to the President of the United States. How did this strange journey come about?

Like millions of Cambodians, Siv was a victim of a bloody civil war. One of the sides in this war was the Cambodian government. The other was a group called the Khmer Rouge. When the Khmer Rouge won the war, the situation in Cambodia got worse. Many people were killed, while others were forced into hard labor. Sometimes entire families were wiped out.

Siv came from a large family that lived in the capital of Cambodia. After finishing high school, Siv worked for a while with a Cambodian airline company. Later, he taught English. After that, he took a job with CARE, an American group that was helping victims of the war.

Siv had hope to leave Cambodia before the Khmer Rouge took over the country. Unfortunately, he was delayed. As a result, he and his family were taken from their homes and forced to labor in rice fields. After a while, Siv managed to escape. He rode an old bicycle for miles, trying to reach Thailand where he would be free and safe. For three weeks he slept on the ground and tried to hide from the soldiers who were looking for him. Caught at last, he was afraid he would be killed. Instead, he was put into a labor camp, where he worked eighteen hours each day without rest. After several months, he escaped again; this time he made it. The journey, however, was a terrifying one. After three days of staggering on foot through mile after mile of thick bamboo, Siv finally made his way to Thailand.

Because he had worked for an American charity group, Siv quickly found work in a refugee camp. Soon he was on his way to the states. He arrived in June of 1976 and got a job-first picking apples and then cooking in a fast-food restaurant. Siv, however, wanted more than this; he wanted to work with people who, like himself, had suffered the hardship of leaving their own countries behind. Siv decided that the best way to prepare for this kind of work was to go to college. He wrote letters to many colleges and universities. They were impressed with his school records from Cambodia, and they were impressed with his bravery. Finally, in 1980, he was able to study at Columbia University in New York City. After finishing his studies at Columbia, Siv took a job with the United Nations. He married an American woman and became a citizen. After several more years, he felt that he was very much a part of his new country.

In 1988, Siv was offered a job in the White House working for President Reagan’s closest advisors. It was a difficult job, and he often had to work long hours. However the long hard work was worth it, because Siv got the opportunity to help refugees in his work.

What is the main idea of this passage?

A. Persistence and courage are global ideas.
B. Siv covered a large area during his life.
C. Siv persevered to become an American citizen
D. Siv overcame numerous challenges to come to American and help others.
E. Siv persevered to become an American citizen.

7. When you want to hang the American flag over the middle of a street, suspend it vertically with the blue field, called the union, to the north and east-west street. When the flag is displayed with another banner from crossed staffs, the American flag is on the right. Place the staff of the American flag in front of the other staff. Raise the flag quickly and lower it slowly and respectfully. When flying the flag at half-mast, hoist it to the top of the pole for a moment before lowering it to mid-pole. When flying the American flag with banners from states or cities, raise the nation’s banner first and lower it last. Never allow the flag to touch the ground.

What is the main idea of this passage?

A. The American flag is the symbol of American freedom.
B. The American flag has fifty stars.
C. Placing the American flag inappropriately will draw government intervention.
D. American flag should be flown differently in certain situations.
“,”The flag should be lowered quickly and respectfully.

8. What if someone told you about a kind of grass that grows as tall as the tallest trees? A grass that can be made as strong as steel? A grass from which houses, furniture, boats, and hundreds of other useful things can be made? A grass that you would even enjoy eating? Would you believe that person? You should, for that grass is bamboo, the “wood” of 1,001 uses.

Bamboo may look like wood, but it is part of the family of plants that includes wheat, oats, and barley. It is a kind of grass. This grass is not just a material for making useful products. Young bamboo is eaten, often mixed with other vegetables, in many Asian foods.

Bamboo grows in many parts of the world. In the United States it grows in an area from Virginia west to Indiana and south to Florida, Louisiana, and Texas. Most bamboo, however, is found in warm, wet climates, especially in Asia and on the islands of the South Pacific Ocean.

In most Asian countries, bamboo is nearly as important as rice. Many Asians live in bamboo houses. They sit on bamboo chairs and sleep on bamboo mats. They fence their land with bamboo and use the wood for cages for chickens and pigs.

Bamboo is used to build large buildings as well as homes. When it is glued in layers, it becomes as strong as steel. On some islands in the South Pacific, bamboo is even used for water pipes. This extraordinary material has many other uses. It is used to make musical instruments, such as flutes and recorders. Paper made from bamboo has been highly prized by artists for thousands of years.

Bamboo is light and strong, and it bends without breaking. It is cheap, floats on water, almost never wears out, and is easy to grow. Nothing else on earth grows quite so fast as bamboo. At times you can even see it grow! Botanists have recorded growths of more than three feet in just twenty-four hours! Bamboo is hollow and has a strong root system that almost never stops growing and spreading. In fact, only after it flowers, an event that may happen only once every thirty years, will bamboo die.

There are more than a thousand kinds of bamboo. The smallest is only three inches tall and one-tenth of an inch across. The largest reaches more than two hundred feet in height and seven inches in diameter. No wonder, then, that the lives of nearly half the people on earth would change enormously if there were no longer any bamboo. No wonder, too, that to many people bamboo is a symbol of happiness and good fortune.

What is the main idea of this passage?

A. Bamboo has at least 2,000 uses.
B. Bamboo grows at an amazing rate and is found primarily in Asia.
C. Bamboo is an amazing grass that can be used in multiple ways.
D. There are at least a 1,000 types of bamboo.
E. Bamboo could be considered a flower in some cases.

9. Every year since 1986, some of the world’s most daring runners have gathered in the desert of Morocco. They are there to take part in one of the most difficult races in the world. The Marathon of the Sands, as it is called, covers over 125 miles of desert and mountain wilderness. The runners complete the course in fewer than seven days, and they run with their food, clothing, and sleeping bags on their backs.

The Marathon of the Sands was founded in 1986 by Patrick Bauer. His idea was to give the runners, who come from all over the world, a special kind of adventure. Most of the runners in this race have found that they form deep friendships with the other runners during their days and nights in the desert. Facing terrible heat and complete exhaustion, they learn much about themselves and each other.

For most of the runners, though, the challenge of the race is the main reason for coming. On the first day, for example, they run fifteen miles across a desert of sand, rocks, and thorny bushes. Few runners finish the day without blistered and raw feet. They also suffer from a lack of water. (They are allowed less than nine quarts of water during each day of the race.) Most of all, they are exhausted when they arrive at the campsite for the night.

The second day, the runners are up at 6:00 A. M. Within a few hours, it is 100 degrees F, but the runners do not hesitate. They must cover eighteen miles that day. That night, they rest. They must be ready for the next day’s run.

On the third day, the runners must climb giant sand dunes- the first they have faced. Dust and sand mix with the runners’ sweat. Soon their faces are caked with mud. After fifteen miles of these conditions, the runners finally reach their next camp.

The race continues like this for four more days. The fourth and fifth days are the worst. On the fourth day, the runners pass through a level stretch and a beautiful, tree-filled oasis, but then, on this and on the next day, they cross more than twenty-one miles of rocks and sand dunes. The temperature soars to 125 degrees F, and many runners cannot make it. Helicopters rush fallen runners to medical help. Runners who make it to the end of the fifth day know that the worst is over.

On the sixth day, heat and rocks punish the racers terribly. In the Valley of Dra, the wind picks up and, as the desert heat is thrust against them with great force, they grow more and more exhausted.

The seventh day is the last, with only twelve miles to be covered. The dusty, tired, blistered runners set out at daybreak. Near the finish line, children race along with the runners, for everybody has caught the excitement. The ones who have run the whole marathon know they have accomplished what most people could not even dream of. “During the hard moments,” says one contestant who has raced here twice, “I’d think, ‘Why am I here?’ Then I’d realize I was there to find my limits.”

What is the main idea of this passage?

A. The Marathon of the Sands race tests the limits of human endurance.
B. The runners run at their own pace.
C. The race causes the strong to stumble and the weak to not finish.
D. The seventh day is the hardest day of the race.
E. Every runner runs the race to find their human limits.

10. High in the Andes Mountains in Peru stands the ancient city of Machu Picchu. No one knows why this great city was built, nor is it likely that we will ever know. Nevertheless, the deserted city of Machu Picchu is important for what it reveals about the ancient Inca people of South America.

The Incas once ruled a great empire that covered a large part of the South American continent. The empire was more than five hundred years old when the first Spanish explorers, looking for gold, went to that continent in the sixteenth century.

The Incas were an advanced people. They were skillful engineers who paved their roads and built sturdy bridges. They plowed the land in such a way that rains would not wash away valuable soil. They dug ditches to carry water into dry areas for farming.

Even though they did not know about the wheel, the Incas were able to move huge stone blocks- some as heavy as ten tons- up the sides of mountains to build walls. The blocks were fitted so tightly, without cement of any kind, that it would be impossible to slip a knife blade between them! The walls have stood firm through great storms and earthquakes that have destroyed many modern buildings.

The Incas were great artists, too. Today, Incan dishes and other kinds of pottery are prized for their wonderful designs. Since both gold and silver were in great supply, the Incas created splendid objects from these precious metals.

While it is true that the Incas had no written language, they kept their accounts by using a system of knotted strings of various lengths and colors. The sizes of the knots and the distances between them represented numbers.

At its height, the Incan empire included as many as thirty million people. The emperor ruled them with an iron hand. He told his subjects where to live, what to plant, how long they should work-even whom they could marry. Since he owned everything, the emperor gave what he wished when he wished- and in the amount he wished -to his people.

In 1533 Spanish explorers led by Francisco Pizarro murdered the emperor of the Incas. Earlier, the heir to the Incan empire had also been killed. The Incas, who had always been entirely dependent on their emperor, now had no recognized leader. The Spaniards easily conquered the empire and plundered its riches.

Have the Incas disappeared from South America? Not at all. In Peru alone, once the center of that great empire, eighty percent of the twenty million people are descendants of the Inca people. Evidence of the Incan empire can be found in many other places in South America as well. You can even visit Machu Picchu. The remains of this ancient city still stand high in the mountains of Peru, an awesome tribute to this once powerful empire.

What is the main idea of this passage?

A. The Incas once inhabited the ancient city of Machu Picchu.
B. Peru was the primary country of the Incas.
C. The Incan empire can be found in ancient cities and was plundered by the Spanish.
D. Spanish conquerors destroyed the Incan empire in the thirteenth century.
E. Machu Picchu was the capital of the Incan empire.

Answer Key
1. D
2. D
3. E
4. A
5. B
6. D
7. D
8. C
9. A
10. C

Posted in English. Thẻ: . Leave a Comment »

Sample Essay

Student Essay November 29th, 2004 (Rated at 4 / 6)

Depending on background and education, this issue provides different perspectives. In my opinion, the choice of a life oriented to the moment versus one guided to the future is evident. I decide my acts in prevision of tomorrow because I prefer to save for the next days and to anticipate the needs of future.

Today is the shortest moment of a life and the days after are greatly numerous thus the assess of situation disclose the necessity to choose the weighted part of balance. Whether I buy or not a car will affect my saving for the next months. Despite the society want us satisfy immediately our desires, I tend to avoid spending my money to use it later.

Day after day, we have to manage our life to obtain a better position whereas if I take successively various ways I will never acquire in-depth knowledge. For instance, at school and universiry we have the choices of our orientation. Changing without managing the learning interests is the best way to know lots of topics but superficially. Therefore, people in this way may not adapt to the job market where the qualification is necessary.

In conclusion, whereas our pleasure guides us to choose instantly; the weak interest gained will trouble our future. Thus I advocate the overall plannification to profit later from works and earnings.

Instructor Reviewed Essay

Depending on background and education, this issue provides different perspectives. In my opinion, the choice of a life oriented to the moment versus one guided to

- on the background
the future is evident. I decide my acts in prevision of tomorrow because I prefer to save for the next days and to anticipate the needs of future.

- “prevision” is not a word
Today is the shortest moment of a life and the days after are greatly numerous thus the assess of situation disclose the necessity to choose the weighted part of

- greatly more
- numerous based on which it is necessary
- in my opinion

balance. Whether I buy or not a car will affect my saving for the next months. Despite the society want us satisfy immediately our desires, I tend to avoid spending

- Whether or not I buy a car / Whether I buy a car or not
- “Despite” is a preposition not a connector
- would tend

my money to use it later.

Day after day, we have to manage our life to obtain a better position whereas if I take successively various ways I will never acquire in-depth knowledge. For

- position. If
- “successively various ways” has no meaning

instance, at school and universiry we have the choices of our orientation. Changing without managing the learning interests is the best way to know lots of topics but

- “orientation” is incorrect word choice; perhaps you mean major, discipline etc.
- without considering

superficially. Therefore, people in this way may not adapt to the job market where the qualification is necessary.

- which “qualification”? unclear
In conclusion, whereas our pleasure guides us to choose instantly; the weak interest gained will trouble our future. Thus I advocate the overall plannification to profit

- fleeting benefit gained
- strategy

later from works and earnings.

Posted in English. Thẻ: . Leave a Comment »

THE WEEK LONG TOEFL PREPARATION TEST

1. LISTENNING: Course Schedule and Lessons

Day 1
Introduction to TOEFL Listening Comprehension; New answering types; Tips and Skills for TOEFL Score Success; Get TOEFL Listening Pre-test

Day 2
TOEFL Listening Part A Introduction and Strategies

Day 3
Idioms, Everyday and Specific Vocabulary;

Day 4
Inference;Emphatic Word Use

Day 5
TOEFL Listening Part B Introduction and Strategies; Extended Conversations

Day 6
Academic discussions

Day 7
Mini-lectures; Post-Test

2. READING:
Day 1
Introduction to TOEFL Reading Comprehension; New answering types; Tips and Skills for TOEFL Score Success; Get TOEFL Reading Pre-test

Day 2
TOEFL-specific reading improvement strategies

Day 3
Reading for main ideas in TOEFL passages: Previewing, Skimming, Scanning, … a reading passage to answer questions about the central idea.

Day 4
Familiarity with detail questions in TOEFL Reading Comprehension

Day 5
Learning about inference and unstated conclusions on the TOEFL test

Day 6
The types of vocabulary questions on the TOEFL test

Day 7
Other less common TOEFL question types such as viewpoint, organizational and analogy; Get TOEFL Reading Post-test

3. WRITING:
Day 1
Instructor-Scored Pre-Test Essay; Course Introduction: Getting started with the TWE; Learning what constitues a top TWE Essay

Day 2
Prewriting activities that drill you towards achieving a top TWE score

Day 3
Now you are ready: The nuts and bolts of writing your TWE essay

Day 4
Different writing styles needed for the TWE: Narrative, Description and Comparison

Day 5
And now, in conclusion, … how best to end your TWE essay

Day 6
Editing for success: putting your TWE essay in its brightest light possible

Day 7
Instructor-Scored Post-Test Essay; Learning from the pros by dissecting superior TWE Essays

4. GRAMMAR REVIEW
Day 1 (topics are listed below)

Topics 1-4; Pre-Test

Day 2
Topics 5-9

Day 3
Topics 10-14

Day 4
Topics 15-18

Day 5
Topics 19-22

Day 6
Topics 23-26

Day 7
Topics 27-31; Post-Test

Course Objectives

Having taken this course, one is expected to have mastered
1. Agreement of Tenses
2. Subject-Verb Agreement
3. Two-Word and Three-Word Verbs
4. Active and Passive Verbs
5. Common Verb Errors
6. Subjects and Objects
7. Common Noun Errors
8. Common Pronoun Errors
9. Noun Phrases
10. Gerunds and Infinitives

11. Expressions with It
12. Expressions with There
13. Common Adjective Errors
14. Common Adverb Errors
15. Comparisons (Structure)
16. Comparisons (Writing)
17. Prepositions
18. Prepositional Phrases
19. Adjective, Adverb, Gerund, and Infinitive Phrases
20. Adverb Clauses

21. Adjective Clauses
22. Noun Clauses
23. Conjunctions (Structure)
24. Conjunctions (Writing)
25. Negative Constructions
26. Word Order (Structure)
27. Word Order (Writing)
28. Parallelism (Structure)
29. Parallelism (Written Expression)
30. Redundancy
31. Omission and Inclusion

Posted in English. Thẻ: . Leave a Comment »

Cho một thằng bạn – From HaOK!

Cho một thằng bạn

Share Today at 3:06pm

Xin lỗi mày, tao nhất định phải viết mấy dòng về mày, vì bản thân tao chả nghĩ ra điều gì có thể coi là hợp lý để khuyên mày cả. Thật ra xin lỗi cho vui thôi, chứ kệ dad mày chứ.

Và tao cũng không có ý định khuyên mày cái gì cả. — Mày là một thằng thông minh, cá tính. Nhưng tao bảo mày rồi, mày càng thông minh, mày càng hiểu nhanh mọi chuyện thì chả có ích gì đâu, chỉ tổ đau đầu thêm thôi. …

Nó đơn giản, chỉ là một cái cầm tay thôi mà. Nếu mày không nghịch ngợm khi cài máy tính cho người yêu mày và nếu người yêu mày không lưu mấy dòng cảm xúc đó lại, mọi việc đã quá đơn giản rồi phải không?

Tao nói với mày bao nhiêu lần rồi, tuyệt đối không bao giờ nên biết cái gì private của người khác, kể cả là người gần gũi với mày nhất/ kể cả ngừơi yêu mày. –

Tao bảo đảm, mọi việc cực đơn giản, mày thử nghĩ xem, trong một đêm hè, đầy sao, trên bãi biển cát trải dài với ầm ào sóng vỗ, bên cạnh một người đàn ông quyến rũ và mạnh mẽ, người yêu mày có thể làm gì khác được chứ, một cái cầm tay đã là quá đơn giản rồi.

Chỉ là, cầm tay và đi dạo trên bờ biển thôi. Có cái khỉ gì đâu nhỉ? — Chúng ta đều là con người, như mày thường nói, không phải lúc nào cảm xúc cũng là một khái niệm constant khô khan và cứng nhắc. Mày lại đã từng nói, mày hiểu cảm xúc đó, và mày tin rằng, mày có thể chấp nhận nó. Người yêu mày đương nhiên cũng là người. –

Tao đoán, rồi một ngày gần đây, mày sẽ lại tới chỗ người yêu mày, và nhẹ nhàng nói (thêm một tý dỗi nữa): anh quay lại rồi, và em không như thế nữa phải không? Và, người yêu mày sẽ nói: anh phải tin em chứ. Và rồi, mọi chuỵên sẽ lại như cũ.

Tao tuyệt đối tin và mong mọi việc sẽ là như thế. — Nhưng tao khuyên mày lại một lần nữa: Tuyệt đối không nên biết những điều private. Nếu chẳng may biết những điều riêng tư đó, hãy tập cách quên đi. Và nếu không thể quên được, mày vẫn nhất định phải quên, vì mày sẽ chấp nhận nó. — Nhưng tao biết.

Điều mày băn khoăn nhất, tuyệt đối không phải là cái cầm tay đó. Mà là vì, mày mãi mãi không bao giờ hiểu được, tại sao người yêu mày lại có thể đi cùng chỉ một ngừơi đàn ông khác, trong một đêm hè, đầy sao, trên bãi biển cát trải dài với ầm ào sóng vỗ. Mày tuyệt đối không bao giờ hiểu được, người yêu mày tại sao lại muốn làm điều đó.

Người yêu mày cũng không hiểu. Tao cũng không hiểu. … Và mày, không tuỵêt đối tin rằng, trong đêm hè đó, chỉ có một cái cầm tay. Đúng không thằng ngu? –

May mắn là chúng ta luôn không hiểu hết mọi việc.

Posted in Mưa hồng. Thẻ: . 1 Comment »